Liên Đoàn Lao Động TP.Đà Nẵng - Công Đoàn Đà Nẵng - www.congdoandanang.org.vn
Đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, CNVCLĐ; vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước. Đổi mới, sáng tạo; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, CNVCLĐ; vì sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Công đoàn Thành phố

Từ sửa đổi Hiến pháp đến sửa đổi Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn và nhiệm vụ của các cấp Công đoàn
Đăng ngày : 05/01/2012 07:00:00 - 246 lượt xem
Hiến pháp là một đạo luật cơ bản quy định toàn bộ chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng... nhất là chế độ chính trị, hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước. Trong thời kỳ cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp, việc hoàn thiện bộ máy nhà nước là yếu tố bước đầu và có tính quyết định. Bởi vì khi bộ máy nhà nước hoàn thiện, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan được phân định rõ, thì việc cải cách thủ tục mới thuận tiện, và hiệu quả. Sửa đổi Hiến pháp sẽ tạo cơ sở để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tránh được sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan. Trong tình hình hiện nay, nhiều luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về bầu cử, Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động có nhu cầu cấp thiết phải sửa đổi. Vì vậy, việc nghiên cứu để chỉnh sửa, bổ sung Hiến pháp cần được các cấp các ngành, các cơ quan đoàn thể và toàn xã hội quan tâm.
        Ðiều 10 Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều này khẳng định vai trò nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam, tuy nhiên một số nội dung cần chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện hoạt động của Công đoàn hiện nay và trong những thập niên tới.
     Cần khẳng định rằng, Công đoàn Việt Nam có chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động và trên thực tế Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp công đoàn đã và đang thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động. Công đoàn không chỉ là tổ chức có chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động (NLĐ), mà còn cùng với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Về tên gọi, nên thống nhất tên gọi của các cấp là “Công đoàn” (hiện nay có cấp thì gọi là “Liên đoàn Lao động” như Liên đoàn lao động tỉnh, huyện, thành phố; có cấp thì gọi là “công đoàn„ như Công đoàn ngành, công đoàn cơ sở. Bởi vậy, Hiến pháp, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn nên thống nhất tên gọi 4 cấp cơ bản như sau: Công đoàn doanh nghiệp, phường, xã (cấp cơ sở); Công đoàn quận, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương (cấp trên trực tiếp cơ sở); Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Công đoàn ngành Trung ương (Công đoàn cấp tỉnh); Tổng Công đoàn Việt Nam (cấp Trung ương).
       Để tăng cường tính đại diện cho người lao động, các cấp công đoàn cần tuyên truyền, vận động kết nạp nhiều công nhân, viên chức, lao động tham gia công đoàn và tích cực hoạt động công đoàn. Trong những năm qua, các cấp Công đoàn đã có nhiều nỗ lực cố gắng tập trung cho việc phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở, nhưng trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước có từ 20 lao động trở lên mới đạt tỷ lệ 51,3%, các cấp công đoàn phấn đấu 100% số doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên thành lập được công đoàn cơ sở vào cuối năm 2011.
      Công đoàn muốn hoạt động tốt cần có nguồn kinh phí bảo đảm. Trong Luật Công đoàn năm 1957 cũng như Luật Công đoàn năm 1990 chỉ quy định các đơn vị, doanh nghiệp trích kinh phí công đoàn một tỷ lệ nhất định trên tổng quỹ tiền lương trả cho người lao động, chứ không nêu cụ thể tỷ lệ %, nên có doanh nghiệp ngoài nhà nước tìm cách không thực hiện sự đóng góp này, gây thiệt hại cho người lao động và tổ chức Công đoàn. Chính vì vậy, cần đưa kinh phí công đoàn vào Luật Công đoàn (sửa đổi), quy định rõ doanh nghiệp phải nộp kinh phí công đoàn là hai phần trăm (2%) tổng số tiền lương cấp phát trong tháng cho toàn thể công nhân, viên chức, lao động, không phân biệt trong hay ngoài biên chế, không phân biệt loại hình doanh nghiệp.      
      Trong doanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở, thì công đoàn cấp trên cơ sở là đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, lao động. Công đoàn cấp trên là đại diện sẽ đảm bảo tính độc lập và khách quan trong thương lượng và ký kết thoả ước lao động tập thể. Thời gian qua ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp ngoài nhà nước việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) gặp rất nhiều khó khăn, số doanh nghiệp thương lượng, ký TƯLĐTT và chất lượng các bản TƯLĐTT còn thấp, nguyên nhân chính là do cán bộ công đoàn cơ sở bị lệ thuộc khá nhiều vào người sử dụng lao động. Nếu được tiếp xúc với công nhân và cán bộ doanh nghiệp, cán bộ công đoàn cấp trên cơ sở sẽ có thuận lợi lớn trong việc tuyên truyền vận động, phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn cơ sở.
      Trong kinh tế thị trường, hầu hết cán bộ công đoàn cơ sở đều là cán bộ kiêm nhiệm, làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), việc làm, tiền lương và sự thăng tiến đều do người sử dụng lao động quyết định. Thực tế cho thấy cán bộ công đoàn kiêm nhiệm ở cơ sở đang phải chịu nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro, cần được bảo vệ. Thể chế hoá nghị quyết của Đảng về cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn, trong Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động (sửa đổi lần này) rất cần thiết bổ sung các điều luật bảo vệ cán bộ công đoàn như quy định: trong nhiệm kỳ BCH công đoàn tại doanh nghiệp, người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ, kỷ luật hạ bậc lương, chuyển làm công việc khác, buộc thôi việc hoặc sa thải cán bộ công đoàn nếu không có lý do chính đáng và chưa có ý kiến chấp thuận của BCH cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở; Công đoàn cấp trên cơ sở có quyền khởi kiện trước tòa hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp đối với các trường hợp cán bộ công đoàn bị NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật. Luật cũng cần có quy định về việc hỗ trợ, giúp đỡ cán bộ công đoàn cơ sở tìm kiếm việc làm, trợ cấp khó khăn nếu chưa tìm được việc làm mới hoặc có thu nhập thấp.
      Về số giờ làm thêm của công nhân, lao động, Điều 69 Bộ luật Lao động hiện hành quy định “Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không được quá bốn giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động”. Quy định này đã được duy trì thực hiện trong nhiều năm qua, nhằm bảo vệ sức khoẻ của người lao động, tạo điều kiện để người lao động có thời gian nghỉ ngơi, phục hồi sức khoẻ, chăm sóc cho bản thân, gia đình và con cái. Quy định thời gian làm thêm giờ như vậy là phù hợp, người lao động có đủ thời gian để tái tạo sức lao động để có thể làm việc tốt hơn. Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi bổ sung Bộ Luật lao động, thì thời gian làm thêm giờ không được quá 50% số giờ làm việc chính thức và không quá 30 giờ trong một tháng, và bỏ quy định số giờ làm thêm tối đa trong một năm. Nếu quy định như vậy, thì số giờ làm thêm trong một năm của người lao động sẽ là 360 giờ, cao hơn so với quy định hiện hành là 160 giờ. Điều này không hợp lý, cần giữ như quy định cũ và về lâu dài sẽ quy định công nhân không phải làm thêm giờ.
       Tiếp tục tham gia sửa đổi Hiến pháp 1992, các cấp công đoàn tổng kết thực hiện Hiến pháp, nhất là Điều 10, trong đó làm rõ những bất cập, hạn chế của quy định trong Hiến pháp liên quan đến chức năng, quyền hạn của tổ chức công đoàn; bên cạnh đó tập trung vào vấn đề vị trí, chức năng, quyền hạn của công đoàn theo quy định của Hiến pháp, trách nhiệm của Nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với Công đoàn VN trong việc tạo điều kiện cho các cấp công đoàn  phát huy quyền hạn, chức năng nhiệm vụ của mình. Từ Hiến pháp đến Luật Công đoàn và Bộ Luật động cần có sự thống nhất cao, nhất là trong việc đảm bảo các hoạt động của Hệ thống chính trị, trong đó có Công đoàn và quyền lực của nhân dân.
                                                                       
  • Nguồn: website Công đoàn Việt Nam
 
    

Đại hội Công đoàn lần thứ I Chi nhánh Công ty Hoàng ...
Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Liên đoàn Lao động ...
Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ tổ chức lễ ...
Công đoàn công ty TNHH TM Điện tử Viễn thông NTHĐại hội ...
Công nhân lao động các KCX-KCN Đà Nẵng sôi nổi, hết mình ...
Lễ ra mắt đội tự quản số 2
Công đoàn công ty quản lý hội chợ và các chợ Đà ...
Khẳng định thương hiệu qua các sản phẩm du lịch mới, độc ...
Xây dựng Cơ quan đạt chuẩn văn hóa: Chuyện còn dài…
CÁC CẤP CÔNG ĐOÀN THÀNH PHÔ ĐÀ NẴNG CHĂM LO TẾT CHO ...
Hội nghị Báo cáo viên Công đoàn quý IV năm 2011
Hội nghị giao ban công tác nữ công quý IV năm 2011
Liên đoàn lao động thành phố Đà Nẵng thăm, tặng quà bộ ...
Hội nghị tuyên truyền hiến máu tình nguyện năm 2011
Ban Kinh kế ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố đã ...
Liên đoàn lao động thành phố Đà Nẵng thăm, chúc mừng các ...
Vươn lên từ những mái ấm
Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng…
Trả lời phỏng vấn của chủ tịch Tổng liên đoàn
Công đoàn các cấp tổ chức nhiều hoạt động nhân ngày nhà ...

Huân chương độc lập

Các đơn vị trực thuộc



Tư vấn pháp luật trực tuyến


Liên kết