Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng
Nhân kỷ niệm 81 năm ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng (15/10/1930-15/10/2011), xin giới thiệu Đề cương để các cấp Công đoàn làm nội dung tuyên truyền
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY TRUYÊN THỐNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG
(15/10/1930-15/10/2011)
KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY TRUYÊN THỐNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG
(15/10/1930-15/10/2011)
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường chinh phục thiên nhiên, đấu tranh chống mọi kẻ thù xâm lược. Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài đầy gian khó, quyết liệt và hào hùng đã hun đúc nên tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Từ truyền thống đó các triều đại phong kiến Việt Nam đã đúc kết sức mạnh đại đoàn kết dân tộc sức mạnh của lòng dân: “Phúc chu tín thủy, dân do thủy'' (Lật thuyền rồi mới biết dân mạnh như nước-Nguyễn Trãi), ''Đắc Quốc Ưng Tri tại đắc dân" (Được nước chính là được lòng dân-Nguyễn Bỉnh Khiêm), “Khoan thư sức dân để làm kế sâu dễ bền gốc” (Hưng Đạo Vương -Trần Quốc Tuấn).
Tới thời Hồ Chí Minh với tư tưởng của Người và đường lối sáng suốt nhất quán của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò và vị trí của nhân dân lại được khái quát tầm cao mới.
“ Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
Công tác dân vận - vận động các tầng lớp nhân dân của Đảng trở thành nhiệm vụ chiến lược, cấp bách của Đảng ta qua các cuộc chiến tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
I. CÔNG TÁC DÂN VẬN THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945)
Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Hội nghị thông qua Chính cương, sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, thông qua các điều lệ tóm tắt của Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội phụ nữ giải phóng, Hội cứu tế đỏ, Hội phản đế (Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc).
Từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930 Hội nghị Trung ương lần thứ nhất được tiến hành tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì. Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị, Điều lệ Đảng, Án nghị quyết về tình hình Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, các nghị quyết về Công nhân vận động, Nông dân vận động, Phản đế đồng minh; Cộng sản thanh niên vận động; Phụ nữ vận động; Quân đội vận, vấn đề cứu tế.
Tháng 10-19930 hệ thống Ban chuyên môn về các giới vận của Đảng được xác định bao gồm: Công vận, Nông vận, Phụ vận, Quân đội vận, Mặt trận phản đế.
Vừa mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Qua đó rút ra được bài học quý báu về thực hiện liên minh Công – Nông; về xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, về nghệ thuật khởi nghĩa và xây dựng chính quyền; về xây dựng Đảng và các đoàn thể quần chúng.
Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đề ra ba nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt của Đảng là: Củng cố phát triển Đảng, tranh thủ rộng rãi quần chúng và chống chiến tranh đế quốc.
Tháng 7-1936, Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng xác định kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Hội nghị chủ trương lập Mặt trận phản đế Đông Dương lấy tên là Mặt trận dân chủ Đông Dương
Tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám họp dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Nhật - Pháp lấy tên là Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.
Giương cao ngọn cờ Việt Minh, nòng cốt là các đoàn thể cách mạng, các đội vũ trang, du kích, các đội tuyên truyền xung phong, nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã nhất tề vùng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa vào tháng 8 năm 1945, giành độc lập tự do cho đất nước.
Ngày 3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sáu nhiệm vụ cần kíp trước mắt để củng cố chính quyền cách mạng: Chống giặc đói, giặc dốt, tổng tuyển cử, xây dựng nếp sống mới, xóa bỏ thuế thân; thuế chợ; thuế đò; tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương, giáo.
Trong 15 năm, kể từ khi Đảng ta ra đời đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong điều kiện hoạt động bí mật, bị đàn áp, khủng bố; song Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân trải qua ba cao trào cách mạng: 1930 -1931, 1936-1939, 1939 -1945, tiến tới Tổng khởi nghĩa thành công, giành độc lập, tự do cho đất nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã minh chứng đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc, chiến lược đoàn kết toàn dân tộc trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là hết sức đúng đắn. Đây không chỉ là thắng lợi của đường lối cách mạng, chiến lược đại đoàn kết dân tộc, mà còn là thắng lợi của khoa học và nghệ thuật vận động nhân dân: tin vào dân, gắn bó với nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân; tuyên truyền giác ngộ nhân dân hiểu rõ con đường giành độc lập tự do, giành quyền sống; tổ chức tập hợp lực lượng chính trị quần chúng trong Mặt trận và các đoàn thể chính trị, cho đến các tổ chức rộng rãi khác một cách hết sức linh hoạt; phát động quần chúng đấu tranh từ các hình thức thấp đến hình thức cao, từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ bằng các hình thức bãi công, bãi khóa, bãi thị đến mít tinh, biểu tình và cao hơn là nổi dậy khởi nghĩa từng phần, đến khởi nghĩa toàn dân.
II. CÔNG TÁC DÂN VẬN THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946 - 1954)
Ngày 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, quyết định phát động kháng chiến trong cả nước. Nhân dân cả nước đồng lòng và nhất tề đứng lên đánh giặc với tinh thần ''Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh'' theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 3-4-1947, Hội nghị Trung ương lần thứ ba họp, bàn chủ trương công tác dân vận trong kháng chiến. Hội nghị đề ra nhiệm vụ là phải củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất: Vì dân, được lòng dân để thực hiện toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài.
Ngày 1-9-1947, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về Công tác dân vận. Chỉ thị nêu lên chủ trương vận động các giới, tổ chức, đoàn thể và chấn chỉnh hoạt động của Ban Dân vận các cấp, cách tổ chức Tiểu ban vận động các giới.
Ngày 20-5-1948, Hội nghị Trung ương lần thứ tư họp, xác định: Các cấp phải có các Ban chuyên môn; ở Trung ương, Khu, Tỉnh thành lập 7 ban chính, trong đó có Ban Dân vận. Ban Dân vận có các tiểu ban: Công vận, Nông vận, Thanh vận, Phụ vận...
Từ ngày 10 đến 15-2-1949, tại Việt Bắc, Hội nghị cán bộ dân vận Trung ương lần thứ nhất họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự. Hội nghị đề ra chủ trương: Tích cực chấn chỉnh công tác dân vận của Đảng, thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt; chính sách và phương châm vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tư sản, địa chủ, tôn giáo, dân tộc thiểu số, Hoa kiều, công tác dân vận trong vùng tạm chiếm.
Ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo ''Dân vận'' đăng báo “Sự thật”- cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng. Bài báo ngắn gọn nhưng hết sức súc tích, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn. Có thể nói, đây là cương lĩnh hoàn chỉnh về công tác dân vận.
Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng họp từ 21-1 đến 3-2-1950. Hội nghị đã nêu lên phương hướng công tác dân vận là: Các tổ chức quần chúng phải vận động nhân dân thực sự tham gia xây dựng chính quyền; xây dựng các tổ chức công, nông, thanh niên, phụ nữ có hệ thống chặt chẽ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp vào tháng 2-1951. Báo cáo “Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân để chiến thắng” được trình bày tại Đại hội là một văn kiện tổng kết súc tích về công tác dân vận và Mặt trận: Mục đích dân vận là làm cho Đảng đi sát quần chúng nhân dân, chính sách của Đảng và Chính phủ ăn sâu vào quần chúng nhân dân, động viên nhân dân thi hành chính sách đó để mưu lợi ích cho nhân dân. Đại hội đề ra chủ trương phát triển phong trào thi đua yêu nước, thực hiện cải cách ruộng đất, đưa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi quyết định.
Từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951, Mặt trận dân tộc thống nhất tiến hành Đại hội, thống nhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, lấy tên là Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt).
Ngày 2-9-1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Cần tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh đăng trên báo Nhân dân. Người chỉ rõ, bệnh quan liêu, mệnh lệnh nguy hiểm, nhiều cán bộ còn mắc bệnh này. Cách chữa là phải “theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều cơ bản”.
1 - Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
2 - Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
3 - Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
4 - Có khuyết điểm thì thật thà phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình bình;
5 - Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
6 - Tự mình làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo;
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ ba (khóa II) họp tháng 4/1952. Hội nghị nhấn mạnh: trong việc chỉnh đốn công tác quần chúng, trước hết phải chỉnh đốn công tác nông vận, vì đại đa số dân ta là nông dân và nền tảng kinh tế của ta là nông nghiệp.
Hội nghị lần thứ năm (khóa II) của Trung ương Đảng tháng 11/1953, thông qua Cương lĩnh ruộng đất. Quốc hội đã thông qua Luật cải cách ruộng đất. Đây là chủ trương phù hợp với nguyện vọng của nông dân và toàn thể nhân dân.
Tháng 9-1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông – Xuân 1953-1954. Chiến dịch Đông-Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ là một sự tổng động viên toàn quân, toàn dân dốc toàn lực để chiến thắng
Từ ngày 23-9-1945 đến ngày 29-7-1954, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến ròng rã 3.223 ngày đêm đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng anh dũng, tự hào và thắng lợi vẻ vang. Đây là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa kháng chiến giành đất, giành dân, vừa xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân. Và cuối cùng thực dân Pháp đã buộc phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, chúng phải rút khỏi miền Bắc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam xâm lược nước ta.
III. CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
Ngày 5/9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết lập Mặt trận rộng rãi các tầng lớp nhân dân để chống đế quốc, tay sai Mỹ. Ngày 10/9/1955 Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam đã họp tại Hà Nội. Đại hội quyết định đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành TW Đảng đã ra Nghị quyết xác định đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.
Ngày 20/12/1960, tại Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam họp quyết định thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 5 đến ngày 10-9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III họp. Báo cáo chính trị của Đại hội nêu rõ : Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng do Đảng lãnh đạo. Nguồn sức mạnh vô hạn của Đảng là ở chỗ Đảng liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân lao động. Đại hội xác định nhiệm vụ, phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Hội nghị lần thứ 12 của Ban chấp hành TW Đảng họp ngày 27-12-1965 xem xét đánh giá tình hình, đề ra chủ trương, nhiệm vụ giai đoạn mới : động viên nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu.
Tháng 1-1968, Hội nghị lần thứ 12 của Ban chấp hành TW Đảng ra Nghị quyết về Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa. Trong năm 1968, ta tiến hành liên tục ba đợt tổng công kích. Tuy ta không đủ lực lượng để giành thắng lợi quyết định, song các đợt công kích đã giành thắng lợi to lớn, làm lung lay ý chí xâm lược, là một đòn quyết định làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.
Đầu năm 1970, Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành TW Đảng họp. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cần thiết của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, anh dũng tiến lên, đẩy mạnh cuộc kháng chiến, đoàn kết với quân và dân Lào và Campuchia anh em đánh bại chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ
Tháng 7-1973 Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp. Hội nghị khẳng định: nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam lúc này là tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ ngụy quyền, làm thất bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Nhiệm vụ hàng đầu là giành dân và giành quyền làm chủ của nhân dân.
Đầu tháng 10-1974, Bộ Chính trị họp bàn về chủ trương giải phóng miền Nam, động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà. Cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 bắt đầu từ ngày 4/3 đến ngày 30-4-1975.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào quần chúng phát triển hết sức mạnh mẽ, sâu rộng trong cả nước, góp phần quan trọng vào việc “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Rõ ràng công tác dân vận của Đảng ta ở cả hai miền Nam - Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không những đã kế thừa, mà còn phát triển lên trình độ mới, đã động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
IV. CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ CẢ NƯỚC THỐNG NHẤT ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1975 - 1985)
Ngày 29-3-1976, Bộ chính trị đề ra Nghị quyết số 249 thành lập Ban Dân vận và Mặt trận Trung ương.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư của Đảng (12-1976) đã chủ trương tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, cùng với việc xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, nền văn hoá mới và con người mới XHCN.
Ngày 8-3-1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 05 về “Tăng cường công tác Dân vận và Mặt trận”.
Ngày 17-3-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban Dân vận Trung ương và Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) đã kiểm điểm nhiệm kỳ qua, sửa đổi, bổ sung một số chính sách lớn về kinh tế-xã hội trong chặng đường trước mắt của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đại hội đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của công tác quần chúng: Ở thời kỳ nào công tác vận động và tổ chức quần chúng làm cách mạng cũng có ý nghĩa chiến lược. Trong giai đoạn cách mạng XHCN và hiện nay khi cách mạng nước ta làm 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng chẳng những không giảm bớt mà còn tăng thêm.
Ngày 18-4-1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 53 về “Tăng cường công tác quần chúng của Đảng”.
Giai đoạn 1981-1985, Đảng ta xác định nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận trong giai đoạn mới là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện thắng lợi “ hai nhiệm vụ chiến lược”, “ba cuộc cách mạng”. Song, trong thực tế chưa làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn. Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng; nặng về huy động sức dân; nhấn mạnh quá mức động viên chính trị tinh thần; thiếu quan tâm mặt lợi ích vật chất. Cơ chế quan liêu, bao cấp, làm ảnh hưởng đến tính tích cực, năng động, sáng tạo của người dân.
V. CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI KỲ THỰC HIỆN SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI (1986 -2011)
Tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm, vạch rõ nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế- xã hội từ nhiều năm trước, đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội rút ra bài học kinh nghiệm lớn là: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Ngày 27-11-1989, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW về “Chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế, xã hội miền núi”
Ngày 20-3-1989, Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành TW Đảng (khoá VI) bàn về công tác dân vận. Hội nghị ban hành NQ 8B về “Đổi công tác quần chúng của Đảng, tăng chúng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”(gọi tắt là Nghị quyết 8B). Hội nghị đề ra 4 quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đó là:
Một là, cách mạng là sự nghiệp của dân do dân, vì dân.
Hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Ba là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng.
Bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể.
Sau tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 8B, ngày 20-6-1996, Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 69-CT/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW8B (Khóa VII). Chỉ thị khẳng định tính đúng đắn của những quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác dân vận trong Nghị quyết TW8B (Khóa VII), cần tiếp tục quán triệt sáu phương hướng công tác dân vận trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã họp. Báo cáo Chính trị tại Đại hội nêu rõ: “Mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác dân vận theo chức trách của mình. Mọi cấp bộ Đảng chăm lo công tác dân vận, đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng”
Ngày 18-2-1998, Bộ chính trị Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 30 - CT/TW về xây dựng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 45-1998-NQ/UBTVQH10 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở, Chính phủ ban hành các Nghị định số 29-NĐ/CP (nay là Nghị định 79-NĐ/CP), Nghị định số 71-NĐ/CP và Nghị định 07-NĐ/CP về ban hành và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở.
Ngày 2-7-1998, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới.
Ngày 14-10-1999, Bộ Chính trị có thông báo số 293 quyết định lấy ngày 15 tháng 10 hàng năm làm ngày “Dân vận” của cả nước.
Từ ngày 10-4-2001 đến ngày 24-4-2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp. Đại hội rút ra 4 bài học chủ yếu trong 15 năm đối mới (1986-2000), trong đó nhấn mạnh “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”.
Đại hội IX của Đảng, xác định rõ: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Ngày 28-3-2002, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị 10-CT/TW “về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”.
Ngày 8-8-2002, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ký Quyết định số 480-2002 QĐ/CTN tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cho Ban Dân vận Trung ương vì đã có công lao to lớn đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Từ ngày 13 đến ngày 21-1-2003, Hội nghị BCH TW lần thứ bảy (phần 2) đã họp và đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết số 23 về “Phát huy sức đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Nghị quyết số 24 “về công tác dân tộc”, Nghị quyết 25 “về công tác tôn giáo”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp. Đại hội rút ra những bài học chủ yếu trong 20 năm đổi mới và khẳng định “đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng”
Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị BCH TW lần thứ sáu, thứ bảy đã họp và đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết số 20 về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nghị quyết số 25 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nghị quyết số 26 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Nghị quyết số 27 về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”./.
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám ...
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 82 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TỔ ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 10 năm ngày toàn dân phòng ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 10 năm ngày gia đình ...
kế hoạch triển khai Tháng hành động Vì trẻ em năm 2011
Hướng dẫn Triển khai phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm ...
Đề cương tuyên truyền 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 121 năm ngày sinh Chủ Tịch ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 125 năm Ngày Quốc tế Lao ...
HƯỚNG DẪN sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 20/NQ-TW về ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng thành ...
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 36 năm thống nhất đất nước ...
Hướng dẫn hoạt động Tháng công nhân năm 2011.
Hướng dẫn tuyên truyền các ngày lễ lớn năm 2011
Hướng dẫn tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII ...
Hướng dẫn công tác Tuyên giáo - Nữ công năm 2011
Hướng dẫn hoạt động nhân ngày Quốc tế Phụ Nữ 8/3.
Đề cương tuyên truyền 81 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản ...
Tuyên truyền nhân Ngày Dân số Việt Nam 26/12
Kỷ niệm 66 năn ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt ...






